Đảm bảo tính bền vững cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS của Việt Nam - Khuyến cáo của Nhóm tư vấn Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU132)

08/04/2015

Nhóm Tư vấn của Hội đồng Liên Minh Nghị viện Thế giới đã có báo cáo về chương trình phòng, chống HIV/AIDS và khuyến nghị làm thế nào để đảm bảo tính bền vững cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam.
Theo nhận định của Nhóm tư vấn, mặc dù Việt Nam đã đạt được những tiến bộ to lớn trong suốt 25 năm phòng, chống HIV/AIDS, đặc biệt trong việc kiểm soát sự gia tăng của dịch HIV/AIDS cũng như cứu sống được nhiều người nhiễm HIV khỏi tử vong…Tuy nhiên, giống như nhiều quốc gia, Việt Nam đang đối mặt với thách thức làm thế nào để duy trì bền vững các thành quả phòng, chống HIV/AIDS khi sự viện trợ của các tổ chức quốc tế đang cắt giảm nhanh trong khi nguồn lực đầu tư trong nước còn hạn chế. Ngoài ra còn rất nhiều thách thức khác đó là: Số người nhiễm HIV còn sống lũy tích tiếp tục gia tăng. Dịch HIV chuyển dịch xu hướng ngày càng phức tạp hơn. Kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tiếp tục là rào cản lớn trong việc tiếp cận các dịch vụ. Độ bao phủ của chương trình cũng còn hạn chế…
Nhóm tư vấn của Đại hội đồng Liên minh Nghị viện Thế giới cũng khuyến cáo để đảm bảo tính bền vững cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa trong một số các vấn đề sau:
- Chuyển đổi mạnh mẽ từ việc phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài sang tính tự chủ quốc gia: Báo cáo nêu rõ, trong những năm vừa qua có tới 60-70% kinh phí cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS do nước ngoài hỗ trợ. Thậm chí một số lĩnh vực như thuốc Methadone, bơm kim tiêm, bao cao su, thuốc ARV phụ thuộc chủ yếu sự hỗ trợ nước ngoài. Trong thời gian tới, Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, do vậy các nhà tài trợ bắt đầu cắt giảm viện trợ nhanh chóng. Việt Nam trước hết cần phải có cam kết chính trị và hành động mạnh mẽ hơn bao giờ hết để đảm bảo có đủ nguồn lực để duy trì các thành quả trong thời gian qua cũng như mục tiêu tiến tới kết thúc dịch AIDS vào năm 2030 mà Việt Nam đã cam kết. Cần hỗ trợ các cam kết của Chính phủ với các nhà tài trợ nước ngoài, có một lộ trình hết sức rõ ràng cho việc giảm phụ thuộc vào việc hỗ trợ tài chính từ nước ngoài. Lộ trình này cũng cần xác định rõ phải đầu tư bao nhiêu tiền cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS trong những năm tới và các nguồn lực này đến từ đâu? Các nguồn đóng góp bao nhiêu?
- Tiếp tục cải thiện môi trường chính sách và pháp lý: Mặc dù hệ thống chính sách và pháp lý cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS của Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều. Luật phòng, chống HIV/AIDS đã ra đời và nhiều văn bản quy phạm pháp luật cũng đã được điều chỉnh cho phù hợp với Luật phòng, chống HIV/AIDS. Tuy vậy cần tiếp tục cải thiện hệ thống pháp lý và luật pháp quốc gia để đáp ứng với yêu cầu mới của công cuộc phòng, chống HIV/AIDS. Chuyển dần từ các hình thức mang tính trừng phạt người nghiện ma túy, người bán dâm sang các biện pháp can thiệp giảm tác hại dựa vào cộng đồng phù hợp với tiêu chuẩn và luật pháp quốc tế. Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực để mở rộng việc cai nghiện và điều trị toàn diện nghiện ma túy một cách tự nguyện và dựa vào cộng đồng. Song song là việc tăng cường truyền thông về luật pháp và giám sát để việc thực thi luật có hiệu quả. 
- Áp dụng các mô hình có hiệu quả và đảm bảo tính dễ tiếp cận dịch vụ: Trong thời gian qua Việt Nam đã triển khai nhiều mô hình rất có hiệu quả, điển hình thời gian gần đây Việt Nam là một trong số các nước đầu tiên triển khai thí điểm Sáng kiến điều trị 2.0. Sáng kiến này bước đầu rất thành công, giúp mở rộng việc tiếp cận sớm với các dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV và điều trị ARV, kết hợp với việc lồng ghép các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu ở tuyến xã. Song song là triển khai Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone. Biện pháp này giúp người tiêm chích ma túy giảm hoặc ngừng sử dụng ma túy và trở lại cuộc sống có ích. Đây là một chương trình can thiệp toàn diện nó bao gồm tư vấn, khám bệnh, điều trị bằng Methadone dài hạn cho những người nghiện các chất dạng thuốc phiện mà hầu hết các trường hợp sử dụng Heroin. Nhóm tư vấn cũng khuyến cáo Việt Nam cần tiếp tục mở rộng các mô hình này, tạo môi trường thuận lợi hơn nữa chương chương trình Methadone trong tương lai tại các phòng khám, các trung tâm lưu động và có thể kết hợp với các điểm điều trị 2.0 để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người sử dụng. 
- Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV bao gồm cả người có quan hệ tình dục đồng giới nam cần tiếp tục loại bỏ: Nhóm tư vấn nhận thấy rằng các chỉ số về kỳ thị và phân biệt đối xử đã giảm một cách hết sức ấn tượng tại Việt Nam, đặc biệt tại những địa bàn triển khai sáng kiến điều trị 2.0. Tuy nhiên kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn đang là một trong các rào cản chính cho người nhiễm HIV tiếp cận các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và điều trị cho người nhiễm HIV, nam có quan hệ tình dục đồng giới. Do vậy các đại biểu quốc hội cần tham gia mạnh mẽ hơn nữa, và sử dụng quyền lực cũng như uy tín của mình để thảo luận một cách cởi mở hơn về vấn đề này và đẩy lùi những vấn đề liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử. 
-Tăng cường vai trò và sự tham gia của các tổ chức xã hội: Nhóm tư vấn đã rất ấn tượng với các tiến bộ về sự tham gia và đóng góp của các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian qua. Tuy vậy, Nhóm tư vấn cũng khuyến cáo rằng, Quốc hội và các cơ quan liên quan cần tìm hiểu thêm về cách thức quản lý và sử dụng các tổ chức xã hội dân sự ở các nước khác nhất là các tổ chức xã hội tham gia vào công tác phòng, chống HIV/AIDS để các tổ chức này ngày càng có vai trò quan trọng hơn và đóng góp nhiều hơn từ quá trình xây dựng chính sách, lập kế hoạch, theo dõi và đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS.
 
 
Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch IPU-132 tại Lễ bế mạc Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới
 
 
 
Chủ tịch Liên minh Nghị viện Thế giới Saber Chowdhury phát biểu.
 
 

 

Nguồn: vaac.gov.vn

Các tin đã đưa ngày: