Phát triển sự nghiệp Y tế - còn đó những khó khăn

24/02/2017

Thời gian qua, ngành Y tế đã triển khai hiệu quả các nhiệm vụ của ngành, từng bước nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành Y tế đang gặp phải nhiều khó khăn và là trở ngại không dễ vượt qua nếu như không có sự chung tay giúp đỡ của các ngành, các cấp trong tỉnh.

Nỗ lực nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phòng bệnh, khám chữa bệnh và các dịch vụ y tế, đáp ứng cơ bản nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân, những năm qua, ngành y tế chú trọng phát triển mạng lưới cơ sở y tế, nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân; phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phát triển thêm nhiều kỹ thuật mới.

Hiện tại, mạng lưới y tế cơ sở toàn tỉnh được củng cố và bao phủ rộng khắp; 100% số xã, phường, thị trấn đã có cán bộ y tế hoạt động; 134/137 trạm y tế xã có bác sỹ làm việc; 100% trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi; trên 70% số trạm y tế đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã, đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Các hoạt động y tế dự phòng, các chương trình mục tiêu được triển khai có hiệu quả tại mạng lưới y tế cơ sở. Giai đoạn 2011-2015, nhiều chỉ tiêu của ngành Y tế đều đạt và vượt kế hoạch đề ra như công suất sử dụng gi­ường bệnh toàn ngành hàng năm đạt từ 121-137% kế hoạch; số bệnh nhân điều trị nội trú hàng năm đạt từ 110-149% kế hoạch; số ca phẫu thuật, xét nghiệm, siêu âm… hàng năm đều tăng, trung bình năm sau tăng hơn năm trước 5-10%.

Ông Đỗ Văn Doanh, Giám đốc Sở Y tế cho biết: "Một trong những nhiệm vụ được ngành Y tế coi là “xương sống” và chú trọng thực hiện là công tác phát triển chuyên môn kỹ thuật. Theo đó, ngành tăng cường triển khai các dịch vụ kỹ thuật mới, áp dụng sáng kiến cải tiến y học vào trong hoạt động khám chữa bệnh và quản lý. Tính riêng năm 2016, số danh mục kỹ thuật theo phân tuyến thực hiện tại các bệnh viện tuyến tỉnh đạt 86%, tăng 12,9% so với cùng kỳ. Tổng số kỹ thuật mới thực hiện được tại 15 cơ sở y tế công lập là 162 kỹ thuật, trong đó có 108 kỹ thuật lâm sàng và 54 kỹ thuật cận lâm sàng."

Bác sỹ Phùng Văn Bính, Giám đốc Bệnh viện Sản - Nhi chia sẻ: "Là bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Phụ sản Trung ương và bệnh viện Nhi Trung ương, vì vậy đội ngũ cán bộ y tế của bệnh viện Sản - Nhi tỉnh thường xuyên được nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ qua các đợt đào tạo, chuyển giao kỹ thuật theo đề án bệnh viện vệ tinh. Từ đó, chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh không phải đi xa, đỡ tốn kém về kinh tế, giảm tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến Trung ương. Năm 2016 bệnh viện Sản - Nhi thực hiện được 37 kỹ thuật mới, trong đó có kỹ thuật điều trị trẻ tự kỷ, phẫu thuật chỉnh hình bàn chân bẹt, siêu âm doppler xuyên sọ, chụp XQ vú… Tổng số kỹ thuật thực hiện được tại bệnh viện năm 2016 đạt 63% so với tổng số kỹ thuật tuyến tỉnh.


Ân cần tiếp đón hướng dẫn người bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh

Cùng với các hoạt động trên, theo ông Đỗ Văn Doanh, ngành Y tế đã cải cách thể chế, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức, nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ y tế thông qua việc thực hiện tốt quy tắc ứng xử, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tại các cơ sở khám chữa bệnh. Việc thực hiện quy chế bệnh viện, quy trình kỹ thuật chuyên môn được các cơ sở y tế thực hiện nghiêm túc từ khâu tiếp đón người bệnh, làm hồ sơ bệnh án, chẩn đoán, theo dõi, tiên lượng và điều trị. 100% bệnh viện thực hiện đúng quy định quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh. Người bệnh được đón tiếp, chỉ dẫn cụ thể khi vào khám bệnh; các thủ tục khám, chữa bệnh được giải quyết nhanh chóng, công bằng, không có bệnh nhân nào phải chờ khám trên 4 tiếng. Cán bộ ngành Y tế nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tình chăm sóc, phục vụ người bệnh, thể hiện đạo đức nghề nghiệp và lương tâm người thầy thuốc. Sự thay đổi rõ rệt về tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ y tế tại nhiều đơn vị đã đem lại lòng tin của người bệnh và nhân dân, được người bệnh và gia đình người bệnh hài lòng.

Còn đó những khó khăn

Mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả khả quan trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, song ngành Y tế vẫn còn đang đứng trước bộn bề những khó khăn cần giải quyết. Để giải bài toán này, bên cạnh sự nỗ lực trong nội lực ngành y rất cần đến sự chung tay vào cuộc của các ngành, các cấp trong tỉnh.

So với sự phát triển của tỉnh trong 20 năm qua và nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân, sự nghiệp Y tế của tỉnh phát triển còn chậm, đang ở mức thấp hơn các tỉnh lân cận, các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Cơ sở vật chất các bệnh viện lớn của tỉnh chưa được đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn tiên tiến hiện đại, chưa tương xứng với sự phát triển của tỉnh. Hiện tại mới có 3/6 bệnh viện được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh là Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Phục hồi chức năng và Bệnh viện Tâm thần.

Là bệnh viện hạng I, tuyến điều trị cao nhất trong tỉnh, tập trung lượng bệnh nhân cao, song do đầu tư xây dựng từ năm 1997, theo công năng cũ quy mô chỉ 300 giường bệnh, sau 2 lần nâng cấp, Bệnh viện đa khoa tỉnh mới đáp ứng được 50% diện tích sàn theo tiêu chuẩn của bệnh viện 750 giường bệnh. Cơ sở vật chất của Bệnh viện đa khoa qua nhiều lần sửa chữa, không đồng bộ và xuống cấp.

Chính thức đi vào hoạt động từ năm 2011 đến nay và là bệnh viện hạng II song Bệnh viện Sản - Nhi hiện vẫn đang phải hoạt động tạm thời tại địa điểm của hai đơn vị là Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội và Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản. Giám đốc Bệnh viện Phùng Văn Bính chia sẻ: "Số bệnh nhân vào khám và điều trị tại bệnh viện Sản – Nhi ngày càng tăng do Bệnh viện đa khoa tỉnh chuyển sang địa điểm mới dể xây dựng, gây hiện tượng quá tải, có ngày số bệnh nhân nằm điều trị nội trú lên đến 540 bệnh nhân. Vì vậy, Bệnh viện đã gặp không ít khó khăn trong việc triển khai các kỹ thuật chuyên môn đặc biệt là các kỹ thuật cao, trong công tác điều trị, chăm sóc người bệnh".

Bệnh viện tuyến tỉnh khó khăn là vậy, các Trung tâm y tế cũng cùng chung tình trạng. Trung tâm y tế thành phố Vĩnh Yên hoạt động trên vị trí đất chật hẹp chỉ với diện tích 0,5 ha; Trung tâm y tế thị xã Phúc Yên chưa được đầu tư, hoạt động tạm thời tại Trạm y tế phường. Ông Lâm Văn Sáu, Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Dương cho biết: "Cơ sở vật chất của trung tâm y tế huyện Tam Dương được xây dựng từ năm 1990 hiện tại đang xuống cấp. Khu nhà 3 tầng của khoa khám bệnh đã bị thẩm lậu, thấm dột, nhiều năm nay chưa được nâng cấp, sửa chữa gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác khám bệnh và điều trị. Một số nhà kỹ thuật phục vụ công tác chuyên môn chưa có như nhà đông y, hồi sức cấp cứu, liên chuyên khoa."

Ông Hồ  Sỹ Toàn, Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Đảo tâm sự: "Về cơ sở vật chất, Trung tâm mới được đầu tư 50% theo kế hoạch, thiếu buồng bệnh và một số nhà kỹ thuật phục vụ công tác chuyên môn; hệ thống cơ sở vật chất bắt đầu xuống cấp; hệ thống xử lý rác thải y tế đã bị hỏng, đơn vị đang phải thuê công ty bên ngoài xử lý nên ảnh hưởng rất lớn đến kinh phí. Do số lượng bệnh nhân ngày càng cao, có thời điểm xấp xỉ 200 bệnh nhân điều trị nội trú trong khi đó quy mô giường bệnh theo công năng của Trung tâm chỉ là 90 giường bệnh, do vậy có thời điểm Trung tâm phải kê, cơi nới thêm giường cho bệnh nhân ở hành lang nhà điều trị."

Bên cạnh khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế phục vụ công tác khám chữa bệnh của ngành Y hiện cũng rất thiếu thốn, chưa đồng bộ và lạc hậu về công nghệ. Hiện tại, trang thiết bị của các đơn vị y tế tuyến tỉnh đạt khoảng 60-70%; tuyến huyện đạt khoảng 50-60% và các trạm y tế tuyến xã đạt 85% so với danh mục trang thiết bị y tế theo quy định của Bộ Y tế. Ngân sách chi thường xuyên dành cho ngành Y tế năm 2015 đã tăng gấp 1,87 lần so với năm 2010, nhưng mới đạt 8% tổng chi của tỉnh, chưa đạt mức quy định của chính phủ là 10%; chi cho lĩnh vực y tế dự phòng mới đạt khoảng 28%, chưa đạt theo quy định Nghị quyết Quốc hội là không dưới 30%. Năm 2015, chi cho đầu tư phát triển sự nghiệp y tế cần khoảng trên 700 tỷ đồng, nhưng toàn ngành được đầu tư trên 300 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 49,2%, còn thiếu khoảng 50%, chưa có nguồn đầu tư. Mức đầu tư 7% là rất thấp so với nhu cầu.

Một khó khăn không nhỏ và đang là trở ngại lớn đến sự phát triển của ngành Y tế đó là đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu về số lượng và thiếu cán bộ có trình độ tay nghề cao ở các lĩnh vực chuyên khoa và ở các tuyến. Tỷ lệ bác sĩ chuyên khoa II, chuyên khoa I tại các cơ sở khám chữa bệnh, phòng bệnh còn thấp so với quy định. Ông Hồ  Sỹ Toàn, Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Đảo không hề giấu giếm, cho biết: "Trung tâm có phòng mổ hiện đại nhưng đội ngũ bác sĩ của Trung tâm chưa thể trực tiếp đứng mổ; đối với những trường hợp chấn thương không phải cấp cứu, Trung tâm mời bác sĩ tuyến tỉnh về mổ cho bệnh nhân. Hiện Trung tâm y tế huyện Tam Đảo rất thiếu các bác sĩ chuyên khoa sâu về ngoại, sản, tai mũi họng, mắt. Nếu có các bác sĩ này, bệnh nhân sẽ không phải chuyển tuyến, giảm tải cho bệnh viện tuyến trên, giảm chi phí cho người bệnh.

Bác sĩ bệnh viện Phục hồi chức năng chăm sóc bệnh nhân

Những năm qua, mặc dù tỉnh đã có chính sách thu hút cán bộ y tế có trình độ cao về làm việc tại tỉnh như tiến sỹ, bác sỹ chuyên khoa II được tỉnh hỗ trợ 70 triệu đồng; thạc sỹ, bác sỹ chuyên khoa I được tỉnh hỗ trợ 40 triệu đồng. Tuy nhiên, mức thu hút này là thấp so với một số tỉnh lân cận, chưa phát huy hiệu quả trên thực tiễn, chưa đủ sức thu hút, khuyến khích các bác sĩ học tập nâng cao trình độ. Ví như tỉnh Quảng Ninh có chính sách thu hút đối tượng là tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa II được trợ cấp thường xuyên 5,0 lần mức lương tối thiểu chung/tháng trong thời hạn 3 năm, trợ cấp 1 lần bằng 100 lần mức lương tối thiểu chung, khoảng 338 triệu đồng; đối tượng là thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa I được hỗ trợ 160 triệu đồng. Tỉnh Phú Thọ có chính sách thu hút đối với tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa II được hỗ trợ 180 triệu đồng; đối với thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa I được hỗ trợ 120 triệu đồng.

Cũng là câu chuyện thu hút các bác sỹ có trình độ chuyên môn giỏi, theo ông Lâm Văn Sáu, một nghịch lý gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng khám chữa bệnh của các trung tâm y tế tuyến huyện là các đơn vị dành kinh phí cử cán bộ đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sau khi được đào tạo về, những cán bộ này lại thường hay chuyển công tác lên tuyến trên, “Phải chăng nguồn ưu đãi và thu nhập của tuyến huyện không đủ hấp dẫn, níu kéo các bác sỹ có trình độ chuyên môn giỏi tâm huyết phục vụ tại tuyến huyện”- ông Sáu băn khoăn.

Nghị quyết 03 - động lực phát triển sự nghiệp Y tế của tỉnh

Để ngành Y tế vượt qua những hạn chế, khó khăn, có động lực phát triển, đáp ứng nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, tại hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI đã ban hành Nghị quyết số 03 về Phát triển sự nghiệp Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030.

Mục tiêu Nghị quyết hướng đến trong thời gian tới là xây dựng hệ thống Y tế phát triển đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở theo hướng từng bước hiện

 Một số mục tiêu cụ thể đặt ra trong Nghị quyết 03

- Phấn đấu tỷ lệ giường bệnh trên một vạn dân: Đạt 35 giường bệnh vào năm 2020; đạt 40 giường bệnh vào năm 2025 và 45 giường bệnh vào năm 2030.

- Tỷ lệ bác sỹ trên một vạn dân: Đạt 13 vào năm 2020; đạt 15 vào năm 2025 và 18 vào năm 2030; tỷ lệ dược sỹ đại học trên một vạn dân: Đạt 2,5 vào năm 2020; đạt 2,7 vào năm 2025 và 3,0 vào năm 2030.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vacxin theo quy định đạt 98,5 vào năm 2020; 99% vào năm 2025 và 100% vào năm 2030; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể cân nặng/tuổi giảm xuống dưới 9% vào năm 2020; xuống 7% vào năm 2025 và dưới 5% vào năm 2030. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi xếp ở tốp có chỉ số tốt nhất vùng Đồng bằng Sông Hồng.

- Đến năm 2020, 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia theo Bộ Tiêu chí Quốc gia về y tế xã.

- 90% tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế vào năm 2020; đạt 93% vào năm 2025 và 95% vào năm 2030.

- Tuổi thọ trung bình của người dân đạt 75 tuổi vào năm 2020; đạt 76 tuổi vào năm 2025 và 77 tuổi vào năm 2030.

đại, hiệu quả và bền vững, đáp ứng tốt nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tỉnh sẽ tập trung nguồn lực đầu tư, sớm xây dựng hoàn chỉnh cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đồng bộ, đảm bảo nhân lực cho các bệnh viện trọng điểm tuyến tỉnh, tuyến huyện để đủ điều kiện thực hiện được hầu hết các kỹ thuật theo phân tuyến và một số kỹ thuật của tuyến trên. Chú trọng công tác đào tạo nhân lực và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Xây dựng một số khoa, lĩnh vực mũi nhọn thiết yếu trong hoạt động khám, chữa bệnh của tỉnh, tạo một bước đột phá về uy tín và sự hài lòng của người bệnh đối với ngành y tế. Phấn đấu đến năm 2020, công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt mức khá, đến năm 2025 đạt mức tiên tiến và đến năm 2030 đạt mức xuất sắc của cả nước.

Tăng cường phát triển kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao năng lực hoạt động của các bệnh viện, nhất là tuyến tỉnh. Phát triển hệ thống khám, chữa bệnh ngoài công lập, mạng lưới vận chuyển cấp cứu tại một số bệnh viện tuyến tỉnh và bệnh viện khu vực, đảm bảo cho mọi người dân được tiếp cận đầy đủ, thuận lợi với các dịch vụ khám, chữa bệnh, giảm tối đa tình trạng quá tải ở một số cơ sở y tế. Có lộ trình kết nối với các bệnh viện tuyến trung ương, đến năm 2030 cơ bản người bệnh được điều trị tại các bệnh viện của tỉnh. Triển khai mô hình phòng khám bác sĩ gia đình, hướng đến cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, toàn diện, liên tục cho cá nhân, gia đình và cộng đồng.

Giai đoạn 2016-2020, phấn đấu hoàn thành dự án Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Sản-Nhi; căn bản đầu tư xong cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho các tuyến để đủ khả năng thực hiện được các kỹ thuật theo phân tuyến, nâng cao rõ rệt năng lực hoạt động khám, chữa bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh. Bố trí ngân sách tỉnh đáp ứng cho các chương trình mục tiêu, đảm bảo tỷ lệ chi từ ngân sách cho y tế theo quy định của Chính phủ.

Phát triển nguồn nhân lực Y tế cả về số lượng, chất lượng, chú trọng phát triển nhân lực y tế có trình độ cao, tay nghề giỏi để có những chuyên gia trong các lĩnh vực chuyên khoa và các tuyến. Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích đào tạo, thu hút thầy thuốc có trình độ chuyên môn cao cho các chuyên khoa và các tuyến. Đảm bảo đến năm 2020 vượt tỷ lệ tối thiểu về số lượng bác sĩ chuyên khoa I, thạc sĩ, chuyên khoa II và tiến sĩ tại các tuyến theo quy định của Bộ Y tế, đáp ứng yêu cầu thực hiện các kỹ thuật phân tuyến theo mục tiêu đã đề ra.

Cùng với đó, nâng cấp Trường Trung cấp Y tế lên Cao đẳng Y tế để đảm bảo đào tạo cán bộ y tế đạt chuẩn về chức danh nghề nghiệp và phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên của ngành Y tế.

Nguồn: vinhphuc.gov.vn (Đức Hiền)

Các tin đã đưa ngày: